Trang chủ »

Có thể đổi mới toàn diện nền giáo dục ‘phẳng’ của Việt Nam?

Có thể đổi mới toàn diện nền giáo dục ‘phẳng’ của Việt Nam?
(Ngày đăng: 23-12-2018 19:19:27)
\"Có phải nền giáo dục của chúng ta cũng đang hội nhập theo trào lưu “phẳng” của thế giới? Đâu là những yếu tố đặc trưng tạo nên sự “phẳng” của giáo dục của giáo dục Việt Nam?\"

Thomas L. Freedmantác giả cuốn sách nổi tiếng “Thế giới phẳng” (The world is flat) cho rằng thế giới ngày nay đang dần bị “san phẳng”. Sự “san phẳng” được hiểu không phải là theo nghĩa cơ học, địa chất mà là trên bình diện kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, các chuẩn mực giao thiệp quốc tế…

 

Các quốc gia, dân tộc đang ngày càng bình đẳng bơn, sự khác biệt về dân trí đang được thu hẹp, không gian sống của con người được mở rộng trên phạm vi toàn cầu. Cuộc cánh mạng Công nghệ Thông tin đã xóa nhòa biên giới quốc gia, những “mấp mô” về địa lý, chế độ chính trị không thể cản trở giao lưu tư tưởng của nhân loại…

Có phải nền giáo dục của chúng ta cũng đang hội nhập theo trào lưu “phẳng” của thế giới? Đâu là những yếu tố đặc trưng tạo nên sự “phẳng” của giáo dục của giáo dục Việt Nam?

Thứ nhất trình độ của đội ngũ giáo viên. Hầu hết những người vào học Sư phạm trình độ đầu vào đều xấp xỉ như nhau, điểm thi tuyển sinh CĐ-ĐH đều quanh quẩn điểm sàn. Trình độ giáo sinh sau ba bốn năm học tập chỉ là một mớ lý thuyết, nhiều giáo viên đi dạy vẫn không biết làm thí nghiệm.

Trên một tờ báo có dẫn chứng: ông Nguyễn Mạnh Tuấn (tổ Vật lý đại cương, ĐH Sư phạm Hà Nội) cho biết là ngay ở trường ông, nơi đào tạo ra các giáo viên, việc thí nghiệm cũng được coi là chuyện xa xỉ. TS Nguyển Văn Khải (Hội Vật lý Việt Nam) còn đau đầu hơn nữa khi “60 giáo viên mắc một biến trở với nguồn 2 pin nối tiếp mà không xong, cứ tranh luận um lên như chợ vỡ”.

Ở bậc đại học, thực chất trình độ giảng viên cũng chỉ là “cá mè thạc sĩ”, đại bộ phận giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ không làm việc trong ngành giáo dục. Không phải là không có những con người tâm huyết, tự thân vận động, tự khẳng định trình độ và năng lực của mình, song họ chỉ là một thiểu số đơn độc, giống như hạt cát trên sa mạc.

Tại các nước tiên tiến, phần lớn giáo sư, tiến sĩ làm việc trong các trường, học viện hoặc trung tâm nghiên cứu chỉ một số ít làm việc trong ngành quản lí, ở Việt Nam thì ngược lại. Trình độ chuẩn của giảng viên theo quy định chỉ là thạc sĩ, một phần không nhỏ trong số đó là thạc sĩ theo kiểu “phổ cập”, chỉ khoảng 20% giảng viên ĐH có trình độ tiến sĩ. Chính sự “đồng đều” về trình độ chuyên môn là yếu tố quyết định tạo nên sự “phẳng” của giáo dục ĐH Việt Nam.

Thứ hai trình độ đội ngũ quản lý. Phần lớn những người làm công tác quản lý đều có xuất phát điểm là thầy cô giáo tại các cơ sở giáo dục đào tạo. Có thể họ là những giáo viên giỏi về chuyên môn nhưng hầu như tất cả đều không được đào tạo về kỹ năng quản lý cùng các kiến thức luật pháp cơ bản, đặc biệt là về kỹ năng soạn thảo các văn bản pháp luật?

Trên một tờ báo khác cũng dẫn lời phát biểu của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường: “Hiện tượng “khoán trắng” cho tư pháp, pháp chế ở một số Bộ, ngành, địa phương cơ bản đã chấm dứt” chỉ thể hiện một điều là cho đến tận bây giờ lãnh đạo cấp Bộ vẫn ngại động chạm đến các vấn đề pháp lý.

Những người quản lý các cấp trong ngành giáo dục mới chỉ thực hiện việc “quản” chứ chưa hoàn toàn “quản theo lý”. Chính sự mơ hồ về pháp luật dẫn đến việc ban hành các văn bản kiểu “vừa quản, vừa không quản” như Thông tư TT-57-BGDDT/ 02-12-2011 hay chuyện nửa khóc nửa cười như quyết định cộng điểm cho bà mẹ Việt Nam anh hùng thi đại học. Sự “đồng đều” về trình độ quản lý nhà nước cả ở lãnh đạo lẫn chuyên viên chính là tiêu chí thứ hai tạo nên sự “phẳng” của giáo dục Việt Nam.

Thứ ba nhận thức của học sinh, sinh viên. Điều này không nói thì thiếu nhưng nói ra thì thừa vì đã được đề cập quá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Có lẽ đã đến lúc phải xem lại nhận định vốn ăn sâu vào tiềm thức người Việt rằng, dân tộc ta có truyền thống hiếu học. Lịch sử có thể đúng là như vây nhưng ngày nay thì không hẳn. “Học sinh phổ thông bây giờ “lười toàn tập” là tít một bài viết trên một trang tin ngày 7/1/2011.

Không phải chỉ học sinh phổ thông mà cả sinh viên CĐ-ĐH cũng vậy. Đến giảng đường, sinh viên không cần giấy bút, cũng chẳng cần nghe thầy giảng miễn là không mất trật tự để bị mời ra ngoài, cuối mỗi tiết học chỉ cần giơ điện thoại di động lên chụp ảnh những gì thầy viết trên bảng là xong.

Nhiều học sinh nói thẳng, dù có đoạt giải nhất quốc tế thì phần thưởng cũng chỉ có thể so với thù lao một xuất diễn của ca sĩ hạng xoàng, chưa bằng cái móng tay nếu nói co với ca sĩ loại “top”. Dù có là thủ khoa khi ra trường thì cũng phải có từ vài chục đến vài trăm triệu mới kiếm được việc làm trong cơ quan nhà nước. Bao nhiêu thủ khoa được may mắn như thủ khoa ĐH Giao thông khi được đích thân Bộ trưởng Thăng tìm việc cho?